tin nổi bật

  • " Ngủ dậy muộn thì phí mất cả một ngày, ở tuổi thanh niên mà không học thì phí mất cả một đời.
    Ngạn ngữ Trung Quốc "
  • " Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới.
    N. Mandela "
  • " Bộ lông làm đẹp con công, học vấn làm đẹp con người.
    Ngạn ngữ Nga "
  • " Mỗi buổi sáng, chúng ta có hai sự lựa chọn: Tiếp tục ngủ với ước mơ của mình hoặc là thức dậy và theo đuổi giấc mơ. Còn bạn? Bạn chọn điều gì?
    "
  • " Để cải thiện cần phải thay đổi. Để được hoàn hảo cần phải thay đổi thường xuyên.
    Willson Churchill "
  • " Bạn bước vào thế giới này chẳng có gì, và mục đích cuộc đời chính là làm nên được điều gì đó từ hai bàn tay trắng.
    Henry Louis Mencken "
  • " Cuộc sống là một chuỗi bài học mà bạn cần phải sống mới hiểu được.
    Helen Keller "
  • " Học để biết - Học để làm - Học để cùng chung sống - Học để tự khẳng định.
    UNESCO "
  • " Người chuyên nghiệp là người có thể hoàn thành công việc của mình một cách tốt nhất ngay cả khi anh ta không cảm thấy muốn làm việc đó.
    Alitxte Cux "
  • " Sẽ không có sự nghiệp lớn nếu không có thử thách lớn.
    Vontaire "
  • " Những cây mạnh nhất, cao nhất mọc trên những mảnh đất cằn cỗi nhất.
    J. Holan "
  • " Không có con đường nào dài quá đối với kẻ bước đi thong thả, không vội vàng. Không có cái lợi nào xa xôi quá đối với những kẻ kiên nhẫn làm việc
    La Bruyere "
  • " Tài năng được nuôi dưỡng trong cô đơn, còn chí khí được tạo bởi những cơn sóng dữ của giông bão cuộc đời.
    W. Goethe "

Em học Lịch sử

Lý Công Uẩn và "Chiếu dời đô" - áng văn bất hủ

Lý Công Uẩn và "Chiếu dời đô" - áng văn bất hủ

  

Lý Công Uẩn, người khai sáng vương triều Lý (1010-1225), khai sáng Thủ đô Thăng Long - Hà Nội, sinh ra và được nuôi dưỡng, giáo dục nơi cửa chùa rồi được giới tăng sĩ ủng hộ, tôn phò làm vua. Cống hiến có ý nghĩa lịch sử quan trọng nhất của Lý Công Uẩn sau khi lên làm vua là việc ông quyết định chọn thành Đại La làm kinh đô, dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, Hà Nội ngày nay.

 

Việc Lý Công Uẩn chọn Thăng Long làm kinh đô vừa đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của thời đại, của Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đang vươn lên mạnh mẽ, vừa có tầm nhìn xa rộng và kế sách lo toan cho con cháu muôn đời sau.  Lý Công Uẩn làm vua 18 năm. Trong thời gian ấy ông đã làm được một số việc mà quốc sử ghi chép như là những việc trọng đại.  Thứ nhất, Lý Công Uẩn cho xây dựng kinh thành Thăng Long có quy mô bề thế, bao gồm cung điện và một hệ thống các điện Càn Nguyên (làm chỗ thiết triều), điện Tập Hiền, điện Giảng Võ… cùng kho tàng, hào lũy. Bốn mặt thành mở 4 cửa Tường Phù (phía Đông), Quảng Phúc (phía Tây), Đại Hưng (phía Nam), Diệu Đức (phía Bắc). Thứ hai, để đáp ứng nhu cầu của đời sống tâm linh, nhu cầu về tôn giáo tín ngưỡng, mà khi đó Phật giáo là Tôn giáo được tầng lớp quý tộc, cung đình cũng như dân chúng tôn sùng, Lý Công Uẩn đã cho xây cất nhiều chùa, như ở phía Nam kinh thành, ở phủ Thiên Đức (châu Cổ Pháp cũ).  Lý Thái Tổ là người đặt nền móng vững vàng cho sự hưng thịnh của Phật giáo thời Lý.  Thứ ba, khi vương triều Lý được thành lập, ở một số địa phương, đặc biệt là ở vùng biên giới phía Bắc, có những thế lực nổi dậy cướp phá, cát cứ. Nhằm dẹp yên các cuộc khởi loạn và nắm được quyền uy của vương triều Lý trên toàn lãnh thổ quốc gia, Lý Thái Tổ tiến hành những cuộc chinh phạt có hiệu quả ở châu Ái, châu Diễn, châu Vị Long, châu Thất Nguyên…  Thứ tư, về đối ngoại, Lý Thái Tổ đã thiết lập được quan hệ ngoại giao khá tốt đẹp với triều Tống.  Bên cạnh những thành tích lớn trên, Lý Thái Tổ còn có công bước đầu xây dựng một bộ máy có quy chủ từ triều đình xuống tới châu, huyện, hương, ấp; bổ nhiệm một hệ thống quan chức Thái úy, Tổng quản, Khu mật sứ, Thái bảo, Thái phó, Tả hữu kim ngô, Tả hữu võ vệ, Ngự sử đại phu, Đô đốc Thượng tướng quân và Viên ngoại lang. Đồng thời, Lý Thái Tổ sau khi lên làm vua, đã sớm ban bố chiếu lệnh buộc những người trước kia trốn tránh phải trở về quê cũ sản xuất; định lệ thuế khóa các loại… Trong chính sách thuế, ông có sự chiếu cố đối với người già yếu, kẻ mồ côi, tàn tật, góa bụa.  Các tác giả Đại Việt sử ký toàn thư khen Lý Thái Tổ “là người khoan từ nhân thứ”. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi đánh giá nhà Lý, nhà Trần có viết: “Triều Lý nhân ái, triều Trần anh hùng”. Nền nhân chính thời Lý được hình thành chính là từ Thái tổ Lý Công Uẩn. Vương triều Lý do Lý Công Uẩn khai sáng tồn tại 215 năm, với 8 đời vua, là một triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam có những ông vua anh hùng cứu nước và khai sáng văn hiến dân tộc, như Lý Thánh Tông (1054-1072), Lý Nhân Tông (1072-1128); những nhà quân sự, chính trị kiệt xuất, như Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành… Khi khảo cứu về chế độ, điển chương thời Lý, Lê Quý Đôn cũng như Phan Huy Chú đều nói, vì thời Lý cách xa quá lâu, tài liệu mất mát, thiếu thốn nhiều, song dựa vào các nguồn tài liệu sách vở, văn kiện hiện còn, chúng ta thấy những dấu ấn văn hóa khá rực rỡ của triều Lý vẫn in khắc sâu trong lịch sử Việt Nam. Thí dụ về cơ cấu tổ chức Nhà nước, về quan chế... Phan Huy Chú đã khảo cứu chức “Á tướng” đời Lý là Tả hữu Tham tri chính sự là chức ở trong Chính phủ, dưới chức Tướng quốc. Hoặc như Lục bộ, theo Phan Huy Chú, ở nước ta chức Thượng thư đặt ra bắt đầu từ thời Lý, nhưng tên các bộ chia đặt thế nào chưa rõ. Đời Trần theo phép ấy của nhà Lý đặt chức Thượng thư hành khiển, Thượng thư hữu bật, sau mới chia ra Thượng thư các bộ (bộ Lại, bộ Binh, bộ Hình). Về quân sự, nhà Lý buổi đầu mô phỏng binh chế đời Đường… đời Tống, nhưng có nhiều sáng tạo độc đáo, trong đó cách hành quân, cách tác chiến chính người Tống lại phải học tập nhà Lý. Những chiến tích quân sự bất diệt của đời Lý đã chứng minh nền quốc phòng và quân sự đương thời là vô cùng mạnh mẽ, tài giỏi.  Cùng với thành tích quân sự, nền ngoại giao triều Lý cũng giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Với một đường lối đối ngoại vừa khôn khéo, vừa cứng cỏi, vương triều Lý đã buộc nhà Tống phải nể trọng, nên trong việc giải quyết về các vụ tranh chấp đất đai ở khu vực biên giới giữa nhà Lý với nhà Tống, phía nhà Lý thường chiếm ưu thế, bởi vậy, lãnh thổ đất nước được bảo vệ chắc chắn, toàn vẹn.  Về phát triển kinh tế, dưới triều Lý còn có nhiều bước tiến bộ quan trọng, đặc biệt là việc xây dựng các công trình thủy lợi, trong đó công trình đắp đê Cơ Xá (sông Hồng, Thăng Long). Nghề dệt, nhất là nghề làm đồ gốm đạt tới đỉnh cao của kỹ thuật và nghệ thuật thủ công nghiệp. Ngoại thương phát đạt. Việc giao lưu buôn bán giữa nhà Lý với các nước vùng Đông Nam Á như Xiêm La, Giava, Tam Phật Tề (Palembang)... khá sôi nổi. Vân Đồn trở thành thương cảng quốc tế quan trọng của Việt Nam khi đó.  Trong lịch sử văn minh Việt Nam, vương triều Lý là vương triều mở đầu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên văn minh Đại Việt. Việc triều Lý mở Quốc Tử Giám, xác lập chế độ đại học, mở khoa thi tuyển chọn nhân tài cho đất nước là những sự kiện, những cái mốc văn hóa mang ý nghĩa trường cửu.  Phật giáo du nhập nước ta từ rất sớm. Giao Châu từng là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng thời cổ. Nhưng phải đến thời Lý, người Việt Nam mới xây dựng được một đạo Phật mang đặc điểm dân tộc rõ nét, đánh dấu bằng sự ra đời của Thiền phái Thảo Đường (1096-1205) với các thế hệ Lý Thánh Tông (1054-1017), Không Lộ, Giác Hải, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông... Dưới ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Thiền Tông, ở thời Lý, kiến trúc nghệ thuật xây chùa, tháp, đúc tượng đạt thành tựu rực rỡ. Văn học, đặc biệt là thơ Thiền đời Lý, đã trở thành một di sản quý giá trong kho tàng văn chương Việt Nam.  Khi nói đến sự kiện Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư, Ninh Bình ra Đại La, tức Thăng Long là phải nói đến Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu) do Lý Công Uẩn tự tay viết.  Chiếu dời đô, vừa là một văn kiện lịch sử, chính trị, vừa là một áng văn bất hủ, mở đầu 1000 năm thơ văn viết về Thăng Long - Hà Nội. Nguồn sử tịch sớm nhất chép bài văn Chiếu dời đô của Thái Tổ Lý Công Uẩn là Đại Việt sử ký toàn thư, bộ quốc sử do Ngô Sĩ Liên biên soạn năm 1479, dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497). Trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn (nửa sau thế kỷ XIX) cũng có bài Chiếu dời đô. Ngoài ra, còn có một số sách khác cũng chép bài Chiếu dời đô, thí dụ Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích (1744-1818).  Sau khi đối chiếu các văn bản Chiếu dời đô được chép ở ba bộ sách vừa dẫn trên, chúng tôi chọn bài Chiếu dời đô trong Đại Việt sử ký toàn thư để dịch lại và giới thiệu, vì đây là văn bản có niên đại sớm nhất (thế kỷ XV) mà về sau Bùi Huy Bích cũng như Quốc sử quán triều Nguyễn đều dựa vào để sao chép lại (rồi sửa chữ như Bùi Huy Bích, hoặc lược bớt đi cho gọn như các sử thần ở Quốc sử quán triều Nguyễn đã làm).  Dưới đây là phần phiên âm và dịch nghĩa, chú thích toàn văn bài Chiếu dời đô. "Thủ chiếu viết:  Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ. Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô. Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà? Bản dịch tiếng Việt: (Nhà vua) tự tay viết Chiếu rằng:  Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô[7], nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô[8], há phải các vua thời Tam Đại[9]; ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương[10], ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?  (Nguồn: Theo bản in của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)  Chiếu, tức chiếu lệnh hoặc chiếu thư, là một thể văn, vua ban ra để nói rõ cho quần thần, dân chúng biết về một vấn đề gì đó.  Đây là loại hình văn bản quan trọng vì nó vừa là mệnh lệnh của vua, vừa là chủ trương, chính sách của triều đình về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục... mà quan, dân phải thực hiện.  Ở nước ta thời xưa, Chiếu dời đô là văn bản sớm nhất, đầu tiên, của thể văn chiếu và là một văn kiện mang ý nghĩa vô cùng to lớn, vì đây là tờ chiếu nói về việc Lý Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra Thăng Long - một sự kiện trọng đại, mở ra bước phát triển mới trong lịch sử Việt Nam.  Chiếu dời đô không chỉ là một văn kiện chính trị, mà còn là một áng văn hay, có giá trị văn học.  Việc Bùi Huy Bích chọn đưa Chiếu dời đô vào công trình Hoàng Việt văn tuyển, chứng tỏ cụ là nhà làm văn tuyển có con mắt rất tinh tường.  Đọc Chiếu dời đô, chúng ta thấy áng văn này đã thể hiện được rõ Lý Công Uẩn, người khai sáng Vương triều Lý, khai sáng Kinh đô Thăng Long, có tầm nhìn chiến lược đại ngàn, đã định hướng đúng cho sự phát triển bền vững, lâu dài của đất nước. Cũng qua Chiếu dời đô, chúng ta biết Lý Công Uẩn có ngọn bút tả cảnh tài giỏi, giầu hình tượng và giầu trí tưởng tượng, giầu tính dự báo.  Nếu nhìn từ góc độ văn học sử mà nói, Chiếu dời đô quả là áng văn bất hủ, mở đầu cho 1000 năm thơ văn viết về Thăng Long - Hà Nội.  

 

Nguồn: vannghequandoi.com 

Người sưu tầm: Đỗ Thị Hiền - Công ty Dome Việt Nam

TIN LIÊN QUAN



sự kiên nổi bật

Thông báo nghỉ lễ Chào mừng ngày Quốc khánh 2/9.

Để Cán bộ, giáo viên của Trung tâm có thể chủ động trong việc sắp xếp kế hoạch cho kỳ nghỉ lễ Chào mừng Quốc khánh 2/9. Trung tâm phát triển tài năng DOME xin thông báo lịch nghỉ lễ.

cảm nhận của học viên

Ngày 20/11: Những bài văn xúc động viết về thầy cô, giáo

Những bài viết đầy xúc động và chan chứa yêu thương như một lời tri ân của các em học sinh gửi đến các thầy cô giáo nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20/11.